vietinfo di động
Thư mục
Gia đình

"Quan hệ tình dục khác giới" ra đời khi nào?

Cập nhật lúc 17-06-2017 14:40:16 (GMT+1)

Trong phần Khi niềm hoan lạc bị coi là bệnh hoạn, tác giả đã giải thích rõ lý do vì sao chỉ mới cách đây chừng 100 năm, quan hệ tình dục giữa đàn ông và đàn bà từng bị coi là "khao khát bệnh hoạn", "lệch lạc giới tính", hoặc nhẹ nhàng nhất là "sở thích tình dục khác thường".

Ngày nay, hành vi tình dục này được thừa nhận là "bình thường".

Vậy điều gì đã dẫn đến sự thay đổi này?

Chính là ngôn ngữ!

Vào cuối thập niên 1860, nhà báo người Hungary Karl Maria Kerthbeny đã xác định bốn cụm từ để mô tả các trải nghiệm tình dục: dị tính (heterosexuality), đồng tính (homosexual), và hai từ, nay đã bị lãng quên, mô tả hành vi thủ dâm và quan hệ với động vật, là quan hệ đơn tính luyến ái (monosexual) và quan hệ hỗn tạp (heterogenit).

Kerthbeny sử dụng từ "quan hệ dị tính" một thập niên sau đó, khi ông được yêu cầu viết một chương sách tranh luận về việc phi hình sự hóa hành vi đồng tính.

Biên tập viên Gustav Jager quyết định không xuất bản nó, nhưng cuối cùng ông đã sử dụng cụm từ của Kertbeny trong một quyển sách xuất bản vào năm 1880.

Karl Maria Kertbeny là người đã đưa ra cách gọi "tình dục dị tính"

Lần tiếp theo từ này được xuất bản là vào năm 1889, khi nhà tâm thần học người Áo-Phổ tên là Richard von Krafft-Ebing đã đặt cụm từ này vào quyển "bệnh tâm thần tình dục" (Psychopathia Sexualis), trong một danh mục các rối loại tính dục.

Nhưng trong khoảng 500 trang, từ "quan hệ dị tính" chỉ được sử dụng 24 lần và thậm chí nó không được đưa vào danh sách các từ cần tra cứu, tham khảo.

Đó là bởi vì Krafft-Ebing hứng thú với "bản năng tính dục trái khoáy" (sự kỳ quặc) hơn là "bản năng tính dục".

"Bình thường" là một từ mạnh, tất nhiên, đã được sử dụng sai rất nhiều trong lịch sử.

Hệ thống thứ bậc dẫn đến chế độ nô lệ có thời đã được coi là bình thường, cũng như thuyết vũ trụ học địa tâm (thuyết coi Trái Đất là cái rốn của vũ trụ).

Chỉ khi các cơ sở nền tảng căn bản, vốn tạo nền móng cho quan điểm chung trong xã hội, bị nghi ngờ và bác bỏ thì những sự "bình thường" đó mới bị xoá bỏ.

Với Krafft-Ebing, khao khát tính dục bình thường được đặt trong bối cảnh rộng hơn là tính năng sinh sản, một ý tưởng vốn vẫn chiếm ưu thế trong các lý thuyết tính dục của phương Tây.

Trong thế giới phương Tây, một thời gian dài trước khi các hành vi tính dục được chia thành các loại như dị tính/đồng tính thì có một cách chia khác tồn tại: Sinh sản hoặc không sinh sản.

Karl Maria Kerthbeny đã xác định bốn cụm từ để mô tả các trải nghiệm tình dục, trong đó có từ "dị tính" và "đồng tính"

Chẳng hạn, Kinh Thánh lên án hành vi quan hệ tình dục đồng giới với lý do tương tự như khi lên án hành vi thủ dâm: đó là các hành vi bị coi là làm hoang phí đi các hạt sự sống.

Trong khi quan điểm này được rao giảng rộng rãi và giờ vẫn còn được Giáo hội Thiên Chúa áp đặt và sau đó cả Đạo Tin Lành cũng vậy, thì điều quan trọng cần ghi nhận ở đây là cách đánh giá này không xuất phát từ Do Thái giáo hay Kito Giáo, mà là từ Chủ nghĩa Khắc kỷ.

Như nhà đạo đức học Công giáo Margaret Farley chỉ ra, những người theo Chủ nghĩa Khắc kỷ "giữ quan điểm cứng rắn về sức mạnh của ý chí con người trong việc điều chỉnh cảm xúc và cả khao khát, như những quy tắc vì sự bình an trong tâm hồn."

Chẳng hạn, Musonius Rufus cắt nghĩa trong bài giảng "Về khoái lạc nhục dục" (On Sexual Indulgence) rằng các cá nhân phải tự bảo vệ mình chống lại sự tự thỏa mãn, trong đó gồm cả đam mê hoan lạc quá độ.

Để kìm hãm sự ham muốn tình dục, nhà thần học Todd Salzman, Rufus và những người theo Chủ nghĩa Khắc kỷ khác cố gắng định vị nó là "trong bối cảnh lớn hơn ý nghĩa con người" - lập luận rằng tình dục chỉ thực sự hợp lẽ khi nó nhằm mục đích sinh sản.

Những nhà thần học Kito Giáo ban đầu cũng theo đuổi đạo lý sinh sản trong quan hệ vợ chồng này, và đến thời Augustine, tình dục để phục vụ sinh sản là kiểu tình dục duy nhất được coi là bình thường.

Khi Krafft-Ebing coi chuyện quan hệ tình dục đương nhiên là để nhằm mục đích sinh sản, thì ông thực sự đã mở rộng nghĩa nó ra. "Trong yêu đương tình dục thì lý do bản năng thực sự, tức là nhằm duy trì nòi giống, không diễn ra một cách có ý thức," ông viết.

Nói cách khác, bản năng tính dục chứa đựng mục đích sinh sản - và mục đích này đã sẵn có như vậy cho dù những người có quan hệ tình dục "bình thường" không để ý đến sự tồn tại của nó, theo Krafft-Ebing.

Nguồn: BBC

Tin liên quan
Lựa chọn vietinfo di động

VietInfo Group

Liên hệ gửi bài: BBT@vietinfo.eu
Liên hệ quảng cáo: quangcao@vietinfo.eu ,
Tel.:+420 777 007 989

Vietinfo.eu được phát hành theo giấy phép và luật thông tin của EU.

Copyright © 2008 - 2017 VietInfo Group

Chọn hiển thị:

Chọn khổ chữ: